EVN đang tiến hành thử nghiệm cơ chế giá điện mới, được gọi là Biểu giá điện 2 thành phần. Đây là sự thay đổi lớn từ phương pháp tính giá một thành phần (chỉ dựa trên sản lượng tiêu thụ kWh) đã áp dụng lâu nay.

(Infographic)
Giá điện 2 thành phần bao gồm hai cấu phần rõ ràng:
Giá Công suất: Đây là phần tiền điện cố định, phản ánh chi phí cố định (khấu hao tài sản, đường dây, trạm biến áp, v.v.) mà ngành điện bỏ ra để duy trì và đảm bảo khả năng cung cấp điện cho khách hàng. Khách hàng sẽ trả cho công suất cực đại sử dụng hàng tháng.
Giá Điện năng: Đây là phần tiền điện biến đổi, phản ánh chi phí phát sinh theo mức sử dụng điện thực tế (kWh) của khách hàng.
Việc chuyển đổi sang giá 2 thành phần là cần thiết vì phương pháp cũ chưa phản ánh chính xác tổng chi phí cung ứng điện cho từng khách hàng.
Cơ chế mới tách biệt chi phí cố định và biến đổi, buộc khách hàng phải trả riêng cho phần công suất mà họ yêu cầu từ hệ thống. Doanh nghiệp sẽ có động lực mạnh mẽ để quản lý nhu cầu sử dụng, tránh việc sử dụng nhiều thiết bị cùng lúc, làm tăng đột ngột công suất cực đại.
Bộ Công Thương đã đồng ý thí điểm giá bán lẻ điện hai thành phần trên giấy từ tháng 10. Ước tính khoảng 7.000 doanh nghiệp sản xuất có sản lượng tiêu thụ bình quân từ 200.000 kWh/tháng trở lên sẽ tham gia thử nghiệm áp dụng biểu giá mới này. Biểu giá điện 2 thành phần đã bắt đầu áp dụng cho doanh nghiệp sản xuất tham gia thí điểm tính toán trên giấy.
Lưu ý: Hiện tại, EVN đang thực hiện thử nghiệm và chưa áp dụng vào hóa đơn thực tế. Hóa đơn của các doanh nghiệp thí điểm sẽ có thêm thông báo so sánh chi phí theo cơ chế mới. Tuy chưa áp dụng chính thức, đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy doanh nghiệp cần sớm lên kế hoạch điều chỉnh vận hành.
Tổng tiền điện khách hàng theo giá điện 2 thành phần được tính theo công thức:
TC = (CP x Pmax) + (Ca x AP)
Trong đó:
Biểu giá mới nhấn mạnh vai trò của khung giờ sử dụng (TUS) và cấp điện áp. Doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý:
| Cấp điện áp | Giá công suất CP(đồng/kW/tháng) | Giá điện năng Ca (đồng/kWh) | ||
| Bình thường | Cao điểm | Thấp điểm | ||
| Cao áp (U ≥ 110kV) | 209.459 | 1.253 | 2.162 | 843 |
| Trung áp (22kV ≤ U < 110kV) | 235.414 | 1.275 | 2.182 | 859 |
| Trung áp (6kV ≤ U < 22kV) | 240.050 | 1.280 | 2.189 | 871 |
| Hạ áp (U < 6kV) | 286.153 | 1.332 | 2.251 | 904 |
Nguồn: EVN
Cơ hội: Mức giá điện năng trong biểu 2 thành phần được thiết kế thấp hơn khoảng 25-33% so với hiện hành do một phần chi phí đã được tách sang Giá công suất. Doanh nghiệp quản lý tốt công suất (giữ Pmax thấp) và sử dụng nhiều điện giờ thấp điểm sẽ tiết kiệm đáng kể.
Rủi ro: Nếu doanh nghiệp không quản lý tốt công suất và để Pmax tăng cao đột biến, tổng tiền điện phải trả có thể tăng vọt do CP chiếm tỷ trọng lớn.
Để thấy rõ sự khác biệt, chúng ta sẽ xem xét một doanh nghiệp sản xuất (AP = 200.000$ kWh/tháng) sử dụng cấp điện áp dưới 6kV:
Giả định:
Tổng Tiền = 200.000 kWh x 1.800 đ/kWh = 360.000.000 VNĐ
Thành phần Công suất:
286.153 đ/kW/tháng x 500 kW = 143.076.500 VNĐ
Thành phần Điện năng (dựa trên biểu giá dưới 6kV):
Tổng Tiền Điện Mới (TC):
143.076.500 VNĐ + 277.480.000 VNĐ = 420.556.500 VNĐ
Giá một thành phần (Ước tính): 360.000.000 VNĐ
Giá hai thành phần (Tính toán): 420.556.500 VNĐ
Chênh lệch: Tăng 60.556.500 VNĐ
Trong ví dụ này, việc quản lý công suất không hiệu quả (500 kW) cùng với việc tập trung điện năng vào giờ Cao điểm/Bình thường đã khiến chi phí tăng cao hơn đáng kể.
Giá điện 2 thành phần là xu hướng tất yếu phản ánh chi phí cơ sở hạ tầng. Để tối ưu chi phí trong bối cảnh mới, doanh nghiệp cần hành động ngay:
Doanh nghiệp nào quản lý tốt nhu cầu sử dụng sẽ biến cơ chế mới này thành lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất.
Nguồn thông tin và phân tích từ FreeSolar và dữ liệu thí điểm từ EVN và Bộ Công Thương.